Nghề làm gạch ngói và vật liệu xây dựng ở vùng Đại Lộc dựa trên hai nguồn tại chỗ: đất sét ở các cánh đồng, bãi ven sông, và cát sỏi trong lòng sông Vu Gia. Nghề đã đi qua một lần chuyển mình lớn: các lò nung thủ công đốt củi, đốt than nhỏ lẻ dần nhường chỗ cho lò tuynel liên tục và các cơ sở làm gạch không nung, phần lớn nằm trong cụm công nghiệp hoặc khu sản xuất tập trung.
Với người trong vùng, gạch ngói không chỉ là một ngành kinh tế mà là việc làm của nhiều thế hệ: người đóng gạch, người đốt lò, người bốc xếp, người chở. Bài này kể lại nghề đã thay đổi thế nào, vì sao lò thủ công phải đóng, nghề hiện nay cần gì ở người lao động, và những điều cần biết về an toàn, môi trường cho ai làm hay sống gần cơ sở vật liệu. Bài không nêu giá gạch, giá cát hay tên doanh nghiệp cụ thể.
Vì sao Đại Lộc có nghề gạch ngói
Đồng bằng ven sông Vu Gia có những tầng đất sét dẻo, mịn do phù sa bồi đắp qua hàng trăm năm. Loại đất này khi nhào với nước, nặn khuôn rồi nung ở nhiệt độ cao sẽ thành gạch, ngói bền chắc. Ngay gần đó, lòng sông cung cấp cát để trộn và để xây, gò đồi phía tây cho củi đốt lò trong thời kỳ chưa có than và điện. Ba thứ nguyên liệu nằm trong một vùng nhỏ là điều kiện để nghề hình thành.
Thêm vào đó, vùng Đại Lộc nằm gần thị trường tiêu thụ lớn là Đà Nẵng và các đô thị ven biển Quảng Nam. Nhu cầu xây dựng tăng thì gạch ngói, cát sỏi từ vùng này theo quốc lộ 14B và các tuyến đường tỉnh cũ chở đi. Nghề vì thế không chỉ phục vụ làng mà phục vụ cả vùng kinh tế phía đông.
Mặt khác, chính việc lấy đất sét làm gạch đã để lại dấu vết trên đồng ruộng: nhiều thửa ruộng bị hạ thấp, có nơi thành ao hố. Khi đất ruộng ngày càng quý, việc khai thác đất sét bị quản lý chặt hơn, đây là một trong những lý do khiến nghề phải thay đổi cách làm.
Trong ký ức của nhiều người lớn tuổi trong vùng, mùa đóng gạch thường rơi vào những tháng khô ráo sau vụ gặt, khi ruộng nghỉ và nhà nông có thời gian rảnh. Đóng gạch là việc làm thêm của cả nhà, phơi gạch mộc trên sân, xếp vào lò khi đủ mẻ. Nghề vì thế đan vào lịch nông nghiệp chứ không tách biệt như một ngành công nghiệp.
Ba kiểu sản xuất gạch đã và đang có trong vùng
Mỗi kiểu sản xuất gắn với một thời kỳ và một loại việc làm khác nhau. Bảng so sánh dưới đây mô tả nguyên lý chung, không đánh giá cơ sở cụ thể nào:
| Tiêu chí | Lò thủ công | Lò tuynel | Gạch không nung |
|---|---|---|---|
| Nguyên lý | Xếp gạch mộc vào lò, đốt từng mẻ | Gạch mộc chạy trên xe goòng qua hầm nung liên tục | Ép vật liệu như xi măng, cát, đá mạt, tro xỉ; đóng rắn không qua nung |
| Nhiên liệu | Củi, than, trấu | Chủ yếu than, có hệ thống điều khiển nhiệt | Không đốt, dùng điện cho máy ép |
| Nguyên liệu chính | Đất sét ruộng | Đất sét, có thể phối trộn | Cát, đá mạt, xi măng, phế thải công nghiệp phù hợp |
| Khói bụi, môi trường | Nặng, ảnh hưởng ruộng và nhà dân xung quanh | Giảm đáng kể nếu có xử lý khí thải | Ít khói, chủ yếu bụi trong xưởng |
| Việc làm | Nhiều lao động thủ công theo mùa | Công nhân theo ca, cần một số kỹ thuật | Công nhân vận hành máy, bốc xếp |
Chính sách chung của nhà nước trong nhiều năm là xoá bỏ lò gạch thủ công, phát triển lò công nghệ cao hơn và khuyến khích vật liệu xây không nung. Các địa phương trong cả nước, trong đó có Quảng Nam cũ, đã thực hiện lộ trình này theo từng giai đoạn. Nếu bạn cần chi tiết quy định hiện hành về vật liệu không nung trong công trình, hãy kiểm tra văn bản của Bộ Xây dựng và thành phố Đà Nẵng.
Lò thủ công đóng cửa: người làm nghề đi đâu
Khi các lò thủ công phải dừng, không ít hộ làm nghề nhiều đời mất đi nguồn thu chính. Những người trẻ chuyển sang làm công nhân trong các lò tuynel, các xưởng vật liệu mới, hoặc rời nghề sang may mặc, xây dựng, chạy xe. Người lớn tuổi quay lại làm ruộng, chăn nuôi hay làm thuê theo mùa.
Các lò cũ để lại nhiều dấu vết: ống khói gạch đứng giữa đồng, nền lò bỏ hoang, những hố đất trũng nơi từng lấy đất sét. Có nơi nền lò được san lại làm ruộng, có nơi thành ao nuôi cá, có nơi bỏ trống. Với khách đi đường quốc lộ, những ống khói cũ là chi tiết dễ nhận ra của vùng đồng bằng ven Vu Gia.
Việc chuyển đổi không chỉ là chuyện kỹ thuật. Lò tuynel và nhà máy gạch không nung cần vốn lớn, cần mặt bằng trong cụm công nghiệp, cần thủ tục môi trường; số cơ sở ít hơn nhiều so với thời lò thủ công. Phần giá trị trước đây chia cho nhiều hộ nay tập trung vào ít đơn vị hơn, người lao động chuyển từ làm chủ lò nhỏ sang làm công ăn lương.
Cát sỏi lòng sông: tài nguyên cần quản lý chặt
Cát sỏi từ sông Vu Gia là vật liệu xây dựng quen thuộc của cả vùng Đà Nẵng – Quảng Nam. Việc khai thác cát lòng sông phải có giấy phép, được giao khu vực, khối lượng và thời gian cụ thể. Khi làm đúng, khai thác cát cung cấp vật liệu và tạo việc làm cho người vận hành tàu, xe, bãi tập kết.
Khi làm sai hoặc khai thác quá mức, hậu quả rơi vào chính những người sống ven sông: lòng sông bị khoét sâu, dòng chảy đổi hướng, bờ và đất bãi ở đoạn khác bị lở. Chuyện này đã được nhắc nhiều lần ở các sông miền Trung. Vì thế việc cấp phép, giám sát khai thác cát là việc của chính quyền và cơ quan tài nguyên, còn người dân có quyền báo khi thấy khai thác trái phép.
Với người tìm việc, các bãi cát, xưởng đá, cơ sở trộn bê tông là nơi tuyển người lái xe, vận hành máy, bốc xếp. Đây là việc nặng, nhiều bụi và nguy hiểm về giao thông; nên hỏi kỹ về hợp đồng, bảo hộ lao động và bảo hiểm trước khi nhận việc.
An toàn lao động trong nghề gạch và vật liệu
Bụi. Bụi đất sét, bụi đá, bụi xi măng hít lâu ngày gây bệnh đường hô hấp. Khẩu trang chống bụi phù hợp, tưới ẩm khu vực làm việc, thông gió xưởng là những biện pháp tối thiểu.
Nhiệt và khí lò. Người làm gần lò nung chịu nóng cao và có thể tiếp xúc khí độc. Không vào hầm lò, buồng sấy khi chưa được phép và chưa kiểm tra thông khí.
Máy móc. Máy nhào, máy ép, băng tải là nơi dễ xảy ra tai nạn kẹp tay. Không tháo che chắn, không sửa máy khi đang chạy, phải tắt nguồn và treo khoá khi bảo trì.
Bốc xếp và vận chuyển. Bê vác nặng nhiều năm gây đau lưng, thoát vị đĩa đệm. Xe chở gạch, cát quá tải vừa vi phạm luật vừa làm hỏng đường làng và dễ lật.
Hợp đồng và bảo hiểm. Làm việc từ một tháng trở lên phải có hợp đồng lao động bằng văn bản và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định. Nghề nặng nhọc càng cần bảo hiểm tai nạn lao động.
Sống gần cơ sở vật liệu: quyền của người dân
Người dân sống gần lò gạch, trạm trộn, bãi cát có quyền được sống trong môi trường không bị ô nhiễm quá giới hạn cho phép. Cơ sở sản xuất phải có hồ sơ môi trường theo quy định, có biện pháp giảm bụi, xử lý khí thải, nước thải. Xe chở vật liệu phải che phủ thùng, không làm rơi vãi trên đường.
Khi thấy khói bụi bất thường, nước thải chảy ra ruộng, xe chở vật liệu làm hư đường thôn, người dân có thể phản ánh với trưởng thôn, chính quyền xã hoặc qua các kênh tiếp nhận phản ánh của thành phố. Phản ánh nên kèm thời gian, địa điểm và hình ảnh cụ thể, mô tả đúng sự việc, tránh suy đoán.
Cũng nên nhìn nhận công bằng: nhiều cơ sở vật liệu đã đầu tư thiết bị giảm bụi, xử lý khí thải và tuyển lao động địa phương. Mối quan hệ giữa cơ sở sản xuất và hàng xóm tốt nhất khi hai bên có kênh trao đổi thường xuyên, chứ không chỉ gặp nhau khi đã có xung đột.
Với người định mua đất, xây nhà gần khu vực có cơ sở vật liệu hay bãi tập kết cát, nên đến xem vào nhiều thời điểm khác nhau trong ngày và trong tuần, hỏi hàng xóm về tiếng ồn, bụi, giờ xe chạy. Thông tin quy hoạch khu vực sản xuất có thể hỏi bộ phận địa chính, xây dựng của xã để tránh mua phải chỗ sắp mở rộng sản xuất.
Nghề gạch ngói hôm nay: còn chỗ cho người trẻ không
Ngành vật liệu xây dựng ở vùng Đại Lộc vẫn tuyển người, nhưng hình thức việc làm đã khác. Thay vì người làm thủ công theo mùa, các cơ sở cần công nhân vận hành máy, thợ cơ khí bảo trì, người lái xe nâng, xe tải, nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm. Những việc này cần học thêm kỹ năng, có chứng chỉ phù hợp với từng loại máy, từng hạng xe.
Người trẻ có thể học nghề cơ khí, điện công nghiệp, vận hành máy xây dựng ở các trường nghề trong khu vực Đà Nẵng – Quảng Nam, rồi về làm ở các cơ sở gần nhà. Mức thu nhập và điều kiện làm việc khác nhau giữa các nơi; nên hỏi kỹ trước khi nhận việc và so sánh với các lựa chọn khác như công nhân may, chế biến gỗ.
Với những ai muốn giữ ký ức nghề, câu chuyện về lò gạch thủ công, ống khói giữa đồng, mùa đóng gạch phơi gạch mộc là một phần lịch sử làng quê xứ Quảng. Ghi chép, chụp ảnh, kể lại cho con cháu là cách giữ nghề trong ký ức khi nó đã không còn trên đồng.
Câu hỏi thường gặp
Ở Đại Lộc còn lò gạch thủ công không?
Theo chủ trương chung, lò gạch thủ công đã và đang được xoá bỏ, chuyển sang lò tuynel và gạch không nung. Ở một số nơi còn dấu vết ống khói, nền lò cũ. Tình trạng cụ thể của từng địa điểm nên hỏi chính quyền xã.
Gạch không nung khác gạch đỏ nung thế nào?
Gạch đỏ làm từ đất sét, nung ở nhiệt độ cao. Gạch không nung được ép từ hỗn hợp xi măng, cát, đá mạt hoặc phế thải công nghiệp phù hợp, đóng rắn không qua lò nung, ít khói và không lấy đất ruộng.
Làm công nhân lò gạch cần lưu ý gì về sức khoẻ?
Chú ý bụi, nhiệt và tai nạn máy móc. Dùng khẩu trang chống bụi đúng loại, không vào khu vực lò khi chưa được phép, không sửa máy khi đang chạy, và yêu cầu hợp đồng, bảo hiểm xã hội đầy đủ.
Khai thác cát trên sông Vu Gia có cần giấy phép không?
Có. Khai thác cát lòng sông phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép với khu vực, khối lượng và thời gian cụ thể. Thấy khai thác bất thường, người dân có thể báo chính quyền xã hoặc cơ quan quản lý tài nguyên.
Sống gần lò gạch bị khói bụi thì phản ánh ở đâu?
Phản ánh với trưởng thôn, chính quyền xã hoặc kênh tiếp nhận phản ánh của thành phố Đà Nẵng. Nên ghi rõ thời gian, địa điểm, kèm hình ảnh và mô tả đúng sự việc để cơ quan chức năng kiểm tra.