Vùng Đại Lộc là nơi ngập sâu mỗi mùa lũ, nhưng vào mùa khô, nhất là cuối vụ Đông Xuân và suốt vụ Hè Thu, nhiều cánh đồng lại thiếu nước tưới. Nguyên nhân gộp từ nhiều phía: mưa ở miền Trung dồn vào vài tháng cuối năm nên mùa khô sông cạn tự nhiên; dòng chảy sông Vu Gia mùa khô chịu ảnh hưởng của việc điều tiết và chuyển nước ở các thuỷ điện thượng nguồn; lòng sông hạ thấp khiến miệng hút trạm bơm có lúc nằm trên mặt nước.
Với nông dân, nghịch lý "lũ thì thừa, hạn thì thiếu" không phải câu chuyện báo chí mà là chuyện mỗi năm. Bài này giải thích từng nguyên nhân một cách trung tính, mô tả hệ thống tưới đang có, rồi nói về những cách người làm ruộng và chính quyền đã dùng để giảm thiệt hại. Bài không đưa số liệu mực nước hay lưu lượng, vì những con số đó cần lấy từ cơ quan khí tượng thuỷ văn và đơn vị quản lý công trình theo từng thời điểm.
Mưa dồn một mùa, sông cạn một mùa
Khí hậu vùng duyên hải Trung Bộ có đặc điểm mùa mưa ngắn và đến muộn, thường tập trung vào khoảng tháng 9 đến tháng 12. Phần lớn lượng mưa của cả năm rơi trong mấy tháng này, gây lũ ở hạ du. Những tháng còn lại mưa ít, nắng nóng, có gió tây khô nóng thổi qua dãy Trường Sơn vào đầu hè.
Sông Vu Gia có lưu vực chủ yếu ở vùng núi phía tây, dốc và ngắn. Nước mưa đổ xuống chảy rất nhanh về hạ du, ít được giữ lại lâu trong đất. Vì vậy chênh lệch giữa mùa lũ và mùa cạn rất lớn: mùa lũ nước tràn bờ, mùa cạn lòng sông lộ những bãi cát dài, có đoạn lội qua được.
Lòng sông cũng thay đổi. Ở nhiều đoạn sông miền Trung, lòng sông bị hạ thấp qua nhiều năm do khai thác cát và do lượng bùn cát từ thượng nguồn về ít đi khi có các hồ chứa giữ lại. Lòng sông thấp hơn thì cùng một lượng nước, mặt nước cũng thấp hơn, và các trạm bơm được xây từ nhiều năm trước có thể không còn hút tới.
Đây là nguyên nhân tự nhiên, có từ trước khi có các công trình hiện đại. Ông bà xưa ở vùng Đại Lộc đã quen với cảnh tát nước, gàu sòng, guồng nước vào những tháng hạn. Điều khác là ngày nay diện tích canh tác, nhu cầu nước sinh hoạt và công nghiệp ở hạ du đều tăng, trong khi dòng chảy mùa cạn còn chịu thêm tác động của con người.
Thuỷ điện thượng nguồn và dòng chảy mùa cạn
Trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn có nhiều nhà máy thuỷ điện ở vùng núi phía tây, như A Vương, Sông Bung, Đắk Mi và nhiều công trình nhỏ hơn. Mùa khô, các hồ thuỷ điện tích nước và xả theo nhu cầu phát điện, theo quy trình vận hành liên hồ chứa do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Lượng nước về hạ du mùa khô vì thế phụ thuộc vào cách vận hành các hồ này.
Một vấn đề được nhắc nhiều trong nhiều năm là việc chuyển một phần nước từ lưu vực Vu Gia sang lưu vực Thu Bồn qua công trình thuỷ điện Đắk Mi 4. Phía hạ du sông Vu Gia, gồm vùng Đại Lộc và vùng Hoà Vang, Đà Nẵng, phản ánh tình trạng thiếu nước mùa khô gia tăng; quy trình vận hành sau đó đã có yêu cầu về xả nước bảo đảm dòng chảy tối thiểu cho hạ du. Mức độ ảnh hưởng cụ thể là chủ đề còn được các cơ quan chuyên môn theo dõi.
Ngoài ra, trong vùng Đại Lộc còn có sông Quảng Huế, một nhánh nối Vu Gia sang Thu Bồn, nơi dòng chảy có xu hướng chuyển dần sang phía Thu Bồn qua nhiều năm. Người dân hai bên sông theo dõi chuyện này sát sao vì nó ảnh hưởng tới lượng nước còn lại trên Vu Gia ở hạ du. Các công trình điều tiết ở đây do nhà nước đầu tư và quản lý.
Hệ thống tưới đang có: trạm bơm, hồ chứa, kênh mương
Phần lớn ruộng đồng bằng ở vùng Đại Lộc được tưới bằng trạm bơm điện đặt ven sông Vu Gia và các nhánh. Trạm bơm hút nước từ sông, đẩy vào kênh chính, rồi chia ra kênh nhánh và mương nội đồng. Khi mực nước sông xuống thấp hơn miệng hút, trạm bơm không lấy được nước hoặc lấy được rất ít; lúc đó đơn vị quản lý phải nạo vét cửa lấy nước, hạ thấp ống hút, hoặc đắp đập tạm để dâng nước.
Ở vùng chân đồi phía tây và tây nam, ruộng được tưới từ các hồ chứa thuỷ lợi nhỏ và vừa trên khe suối, trong đó có hồ Khe Tân ở khu vực Phú Thuận ngày nay, cùng các đập dâng nhỏ. Hồ chứa giữ nước mùa mưa để dùng dần mùa khô, ít phụ thuộc vào mực nước sông, nhưng dung tích có hạn. Năm mưa ít, hồ không tích đầy, mùa khô phải tính toán lịch xả rất chặt.
Mạng kênh mương là phần nối mọi thứ lại. Kênh bê tông hoá thì đỡ thất thoát; kênh đất bị bồi lắng, sạt bờ, cỏ mọc thì nước chảy đến cuối kênh đã hao hụt nhiều. Mỗi mùa lũ, kênh lại bị bùn lấp, và việc nạo vét đầu vụ là công việc thường xuyên của hợp tác xã và các thôn.
Nước tưới đến từ đâu và rủi ro mùa khô
Bảng dưới tóm tắt các nguồn nước tưới chính trong vùng và điểm yếu của từng nguồn khi gặp năm khô hạn:
| Nguồn nước | Vùng thường dùng | Rủi ro mùa khô | Cách giảm rủi ro |
|---|---|---|---|
| Trạm bơm ven sông | Đồng bằng dọc Vu Gia | Mực sông thấp hơn miệng hút, nước đục cát | Nạo vét cửa lấy nước, hạ ống hút, đập dâng tạm |
| Hồ chứa, đập dâng | Chân đồi phía tây, tây nam | Hồ không tích đầy năm mưa ít | Lịch xả luân phiên, ưu tiên giai đoạn lúa cần nước |
| Máy bơm cá nhân | Đất bãi, ruộng màu | Mép nước lùi xa, chi phí dầu điện tăng | Tưới phun, nhỏ giọt, chia lần tưới |
| Giếng đào, giếng khoan | Vườn nhà, rau màu | Mạch nước hạ thấp cuối mùa khô | Dùng cho cây giá trị, không thay nước ruộng lúa |
Không có nguồn nào hoàn hảo, và không nguồn nào thay thế được hoàn toàn nguồn khác. Kế hoạch tưới tốt là kế hoạch biết rõ nguồn của mình yếu ở đâu và chuẩn bị trước cho tháng khó nhất.
Về chi phí, theo Luật Thuỷ lợi năm 2017, dịch vụ thuỷ lợi được tính giá và nhà nước có chính sách hỗ trợ cho diện tích sản xuất nông nghiệp trong những trường hợp luật quy định. Phần nông dân thực trả thường là phí dịch vụ nội đồng cho hợp tác xã hoặc tổ thuỷ nông, cộng thêm tiền dầu điện nếu tự bơm. Mức cụ thể khác nhau theo từng nơi và từng năm; hỏi hợp tác xã phụ trách cánh đồng để biết.
Nông dân xoay xở thế nào trong năm hạn
Gieo đúng khung thời vụ. Gieo tập trung giúp cả cánh đồng cần nước cùng lúc, dễ điều tiết, và tránh để lúa trổ vào đợt nắng nóng gay gắt nhất.
Chọn giống ngắn ngày, chịu hạn. Rút ngắn thời gian lúa cần nước trên ruộng, nhất là vụ Hè Thu.
Giữ nước trên ruộng. Đắp bờ kín, san ruộng phẳng, không để nước tràn qua bờ sang ruộng khác hay chảy ngược ra mương.
Tưới ướt khô xen kẽ. Ở giai đoạn phù hợp, không giữ ngập liên tục mà để ruộng khô se rồi mới cho nước vào lại. Cách này được khuyến nông nhiều nơi hướng dẫn để tiết kiệm nước; nên học từ cán bộ chuyên môn trước khi áp dụng.
Chuyển đổi cây trồng. Chân ruộng cao, cuối kênh thường xuyên thiếu nước có thể chuyển sang bắp, đậu, mè trong vụ Hè Thu. Nhiều nơi có chương trình hỗ trợ giống khi chuyển đổi.
Chung tay nạo vét. Khơi thông mương nội đồng trước vụ giúp nước đến được cuối kênh. Việc này hiệu quả nhất khi cả thôn cùng làm.
Nước sinh hoạt và nước tưới: hai nhu cầu trên cùng một dòng sông
Nước sông Vu Gia không chỉ dùng để tưới. Ở hạ du, nước từ hệ thống Vu Gia là nguồn cấp nước sinh hoạt quan trọng cho Đà Nẵng. Vào mùa khô, khi dòng chảy yếu và triều biển đẩy mặn ngược lên ở đoạn gần cửa sông, các nhà máy nước phía hạ du có lúc gặp khó. Điều này khiến việc phân bổ nước giữa thượng nguồn và hạ du, giữa tưới tiêu và sinh hoạt trở thành bài toán chung của cả vùng.
Từ 7/2025, cả vùng Đại Lộc và Đà Nẵng cũ cùng thuộc một thành phố. Về mặt quản lý, điều này có thể giúp việc điều phối nước trên lưu vực thuận hơn vì cùng một cấp chính quyền. Nhưng dòng chảy tự nhiên và các công trình thượng nguồn thì không đổi theo ranh giới hành chính; mùa khô vẫn là mùa khô.
Với hộ gia đình ở vùng Đại Lộc, giếng đào và nước máy tập trung là hai nguồn nước sinh hoạt chính. Cuối mùa khô, giếng nông ở một số nơi có thể cạn hoặc nước kém chất lượng hơn. Nên có dự phòng chứa nước và theo dõi thông báo của đơn vị cấp nước khi có điều chỉnh.
Theo dõi thông tin để chủ động
Người làm ruộng không điều khiển được thời tiết hay thuỷ điện, nhưng có thể chủ động bằng thông tin. Bản tin dự báo khí tượng thuỷ văn dài hạn thường cho biết xu hướng mùa khô năm đó: mưa nhiều hay ít hơn trung bình, nắng nóng đến sớm hay muộn. Đơn vị quản lý thuỷ lợi và hợp tác xã thường thông báo lịch bơm luân phiên đầu mỗi vụ.
Khi có thông báo về hạn hán hay thiếu nước, chính quyền xã thường hướng dẫn cụ thể: diện tích nào ưu tiên tưới, diện tích nào nên chuyển đổi, có hỗ trợ gì. Hãy đến dự các buổi họp thôn đầu vụ, vì đó là lúc thông tin được nói rõ nhất và là lúc bạn có thể hỏi về cánh đồng của mình.
Nếu bạn ở xa và có người thân làm ruộng ở quê, hiểu những nguyên nhân trên sẽ giúp bạn không trách oan khi mùa màng kém. Thiếu nước ở vùng Đại Lộc ít khi là do người làm ruộng lười, mà thường là do những thứ nằm ngoài tầm tay của từng hộ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Đại Lộc ngập lũ nặng mà mùa khô lại thiếu nước?
Vì mưa ở miền Trung dồn vào vài tháng cuối năm, lưu vực Vu Gia dốc nên nước về nhanh rồi rút nhanh. Mùa khô sông cạn tự nhiên, cộng thêm ảnh hưởng điều tiết, chuyển nước ở thuỷ điện thượng nguồn và lòng sông hạ thấp làm trạm bơm khó lấy nước.
Thuỷ điện thượng nguồn có phải xả nước cho hạ du mùa khô không?
Có. Các hồ trên lưu vực vận hành theo quy trình liên hồ chứa do cơ quan có thẩm quyền ban hành, trong đó có yêu cầu bảo đảm dòng chảy cho hạ du mùa cạn. Thông tin về lịch và lưu lượng xả cần lấy từ cơ quan chức năng.
Ruộng cuối kênh hay thiếu nước thì nên làm gì?
Báo sớm với hợp tác xã hoặc tổ thuỷ nông để được xếp lịch, đắp bờ kín, phối hợp nạo vét mương. Năm hạn nặng, cân nhắc chuyển sang cây màu chịu hạn trong vụ Hè Thu theo hướng dẫn của xã.
Tưới ướt khô xen kẽ có làm giảm năng suất lúa không?
Nếu áp dụng đúng giai đoạn và đúng kỹ thuật, cách tưới này được nhiều nơi khuyến cáo để tiết kiệm nước mà không ảnh hưởng nhiều tới năng suất. Nên học từ cán bộ khuyến nông và thử trên một phần ruộng trước.
Có chương trình hỗ trợ khi phải chuyển đổi cây trồng vì hạn không?
Nhiều năm, địa phương có hỗ trợ giống hoặc kỹ thuật cho diện tích chuyển đổi do thiếu nước. Hỏi bộ phận nông nghiệp của xã hoặc hợp tác xã nông nghiệp về chương trình đang áp dụng ở thời điểm của bạn.